Tên sách: Tự do học tập

Tác giả: Peter Gray

Tại sao mình đọc cuốn sách này?

Để con phát triển tự nhiên hay có hướng đi trong học tập từ nhỏ, điều gì là quan trọng hơn?

Đây là điều mà mình đã trăn trở từ rất lâu. Từ những tài liệu đọc sách đến những lời khuyên của những người xung quanh, và cả những xu hướng và ý kiến của xã hội, có quá nhiều sự lựa chọn và quan điểm khiến mình cảm thấy bối rối. Nếu không có “định hướng” chặt chẽ và phương pháp giáo dục có hệ thống, liệu tương lai của con có thể phát triển đúng hướng không?

Trong hành trình tìm kiếm câu trả lời và đọc những nghiên cứu đáng tin cậy, mình đã phát hiện cuốn sách “Tự do học tập” của tác giả Peter Gray.

Cuốn sách này thực sự là một phát hiện tuyệt vời trong năm 2023. Có những đoạn mà mình đã đọc đi đọc lại nhiều lần và vẫn không ngừng cảm thấy xúc động, thậm chí nó mở ra cho mình một cái nhìn mới về bản chất của giáo dục rất thú vị: Tự do học tập.

Ba bài học thú vị của mình

1. Đừng tước đi quyền tự do của con!

Mình nghĩ rằng mỗi người đều khao khát tự do, dù là trẻ em hay người trưởng thành. Tuy nhiên, theo một cách vô thức nào đó, chúng ta đang bị cuốn vào dòng chảy xã hội, đặt trẻ con vào những khuôn khổ thời gian cố định và địa điểm cụ thể. Nơi mà trẻ phải chiếm phần lớn thời gian hàng ngày dưới sự kiểm soát của người lớn, giới hạn tự do trong các hành vi, và khích lệ theo đuổi việc lắng nghe và tuân thủ theo mô hình đã đặt ra.

Tiến sĩ Peter Gray, tác giả của “Tự do học tập”, đã cho mình một sự thức tỉnh. Áp lực mà chúng ta đang đặt lên con cái có thể tước đi quyền lớn nhất của con – đó là tự do vui chơi và tự do học tập thuộc về bản năng của con người.

Trẻ em tự bản tính được sinh ra để vui chơi và tự mình khám phá ĐỘC LẬP với người lớn. Thôi thúc vui chơi tự do là một thôi thúc cơ bản về mặt sinh học.

Peter Gray, Tự do học tập.

Đó là một điểm khởi sáng trong tâm trí của mình khi mình nhận ra một sự thật hiển nhiên. Trẻ em và người lớn là hai cá thể BIỆT LẬP. Là một người mẹ, từ lúc nào mình đã tự khoác lên mình “trách nhiệm nuôi dạy” con cái bằng việc suy nghĩ về định hướng tương lai con, nhưng liệu đó có phải là điều con cần?

Nhiều lúc mình quan sát cách con chơi một cách tự do, mà theo ngôn ngữ người lớn thường gọi là “tọc mạch” “nghịch ngợm” và “phá hỏng”, mình cảm thấy rõ ràng sự khác biệt ấy. Trực cảm của một người mẹ cho mình thấy rằng khi con được tự do chơi theo cách của con, con mới thật sự đắm chìm vào thế giới mà con đang muốn khám phá.

Mình cũng đã trải nghiệm rất nhiều lần thất bại khi cố hướng dẫn con chơi một cách bài bản của người lớn. Cũng như rất…rất nhiều lần mua những món đồ chơi “trí tuệ” và “hấp dẫn” theo góc nhìn của mình và nhận ra con thờ ơ chẳng chơi qua một lần nào. Thế nên, mình đã nhận ra một điều là đôi khi chỉ cần một vật dụng nào đấy trong nhà, hoặc là một món đồ chơi nào đó làm minh họa, con có thể sáng tạo ra một câu chuyện mà cả thế giới sáng tạo của con nằm trong đó.

*Ảnh chụp năm bé mình hơn 1 tuổi, được tự do chơi xếp lego không theo một hình mẫu cụ thể*

2. Bản năng học tập và tự giáo dục của trẻ

Bằng trực giác của một người mẹ, mình có thể hiểu được một phần nào đấy lập luận của tiến sĩ Peter Gray về việc dành thời gian vui chơi tự do cho con, nhưng điều này có liên quan trực tiếp gì đến “học tập”? Tại sao con không cần được hướng dẫn, và định hướng việc học tập?

Để trả lời câu hỏi này, tiến sĩ Peter Gray đã cung cấp những dẫn chứng về lịch sử phát triển của loài người để người đọc có cái nhìn khoa học hơn về bản năng học tập của con người.

Thứ nhất, “học tập” không đồng nhất với “trường học”. Khi nhìn về lược sử về giáo dục, chúng ta có thể nhận thấy rằng trường học là “sản phẩm của lịch sử”, không phải là “sản phẩm của khoa học và logic”.
Cụ thể khi nhìn lại lịch sử, ở thời kỳ săn bắn hái lượm, trẻ em được khuyến khích tự do phát huy tối đa khả năng khám phá thế giới thông qua các hoạt động tự do. Tại thời kỳ này, con người đã đạt đến một trình độ kiến thức và kỹ năng khổng lồ để có thể sinh tồn trong thế giới tự nhiên vô vàn những nguy hiểm và thách thức. Tuy vậy, khi con người chuyển từ lối sống săn bắn hái lượm sang thời kỳ nông nghiệp, quan điểm về việc “nuôi dưỡng con cái” có xu hướng trở thành “sở hữu con cái”. Chúng ta nuôi con cái như cách chúng ta quản lý và sở hữu các loại cây trồng và vật nuôi thuần dưỡng. Chúng ta nỗ lực kiểm soát quá trình phát triển và hành vi của con, tương tự như cách chúng ta huấn luyện ngựa để chúng thực hiện những công việc mà chúng ta mong muốn. Việc huấn luyện con cái chỉ khác ở mục đích để chuẩn bị cho những kỹ năng và thành công trong tương lai của con theo đúng với quan điểm và ý muốn của chúng ta.

Từ chế độ phong kiến và thời kỳ công nghiệp, giáo dục đồng nghĩa với với huấn luyện sự tuân phục. Khi tìm hiểu về lịch sử của trường học qua các thời kỳ, chúng ta sẽ nhìn thấy một sự thật đó là thông qua việc dạy cho trẻ em biết chữ, xã hội luôn cố gắng kiểm soát nội dung mà trẻ em đọc từ đó điều chỉnh cách nghĩ và hành xử để phù hợp với cơ chế quản lý của xã hội. Dư âm của sự “kiểm soát” này vẫn còn hiện hữu phần nào trong xã hội ngày nay. Khi chúng ta thấy rằng trẻ em không được tự quyền lựa chọn những nội dung học, và việc đánh giá năng lực thông qua những bài kiểm tra và kỳ thi áp lực đã tước đi ở trẻ quyền tự do được học tập.

Thứ hai, con người vốn sẵn có bản năng tự giáo dục bản thân. Bản năng học tập của con người xuất phát 3 yếu tố là sự hiếu kỳ, thích vui chơi tự do và tính hòa đồng xã hội.

Điều này có thể được hiểu rõ hơn thông qua câu chuyện về những đứa trẻ mù chữ ở Ấn Độ. Vào năm 1999, Sugata Mitra, là một giám đốc khoa học của một công ty công nghệ giáo dục ở Ấn Độ đã đưa ra một cuộc thử nghiệm về khả năng tự giáo dục của trẻ em. Anh đã đặt một chiếc máy tính ở trong khu ổ chuột nghèo nhất tại New Delhi, cũng như những vùng quê nghèo xa xội tại Ấn Độ – nơi mà hầu hết trẻ em không được đi học và mù chữ, và hiển nhiên các em cũng chưa bao giờ được biết đến sự tồn tại của một chiếc máy tính.

Các em nhỏ, từ độ tuổi khoảng từ 7 tuổi đến 13 tuổi, ngay lập thức khám phá thiết bị kỳ lạ này, và khi khám phá được về một chức năng thú vị mới của chiếc máy, các em nhanh chóng chia sẻ và lan truyền đến những đứa trẻ khác. Khi chiếc máy tính có kết nối mạng Internet, lũ trẻ thậm chí đã học được cách tìm kiếm trên web, trẻ không biết đọc đã bắt đầu học đọc thông qua tương tác với máy tính. Thậm chí trong một ngôi làng vùng sâu xa ở Ấn Độ, trẻ em trước đó không biết gì về sinh vật học đã học biết về vi khuẩn và virus thông qua tương tác với máy và bắt đầu sử dụng kiến thức này thông qua trò chuyện hằng ngày.

Mitra ước chừng với mỗi máy tính anh lắp đặt, trẻ sẽ bắt đầu biết dùng máy vi tính trong vòng 3 tháng kết từ khi máy hiện hữu. Các em có thể sử dụng tất cả các chức năng vận hành trong Windows chạy chương trình giáo dục, duyệt và lướt mạng Internet, xử lý những vấn đề đơn giản như loa không hoạt động, và tải trò chơi trên máy tính…

Điều kỳ diệu gì khiến một nhóm những đứa trẻ không biết đọc và viết có thể hiểu và sử dụng máy tính khi không có sự hướng dẫn của bất kỳ người lớn nào?

Điều kỳ diệu ấy đến từ những phương diện cốt lõi của bản tính con người: Tính hiếu kỳTính chơi vui và tính hòa đồng xã hội. Hiếu kỳ thu hút trẻ em tới máy tính và thôi thúc trẻ em khám phá, chơi vui thôi thúc trẻ em thực hành nhiều kỹ năng với máy tính và tính hòa đồng xã hội cho phép việc học của mỗi trẻ “lan tỏa như một đám cháy rừng” cho hàng chục trẻ khác.

Thí nghiệm này đã minh chứng một điều rằng trẻ em khi được đặt đúng trong môi trường học tập, nơi các em cảm thấy hiếu kỳ, có thể thực hành thông qua sự vui chơi và có tương tác xã hội, các em có thể phát huy tối đa khả năng học tập, cũng như tự giáo dục của mình mà không cần đến sự hướng dẫn chi tiết từ người lớn.

3. Tự do làm chủ cuộc đời mình

Khi trao cho trẻ quyền tự do học tập và vui chơi, Tiến sĩ Peter Gray đã đề cập một vấn đề quan trọng hơn nhiều so với việc chỉ thảo luận về quá trình học tập của trẻ em, điều mà mình tin rằng chúng ta cần phải xem xét một cách kỹ lưỡng hơn. Đó là trao trả lại cho con sự tự do được làm chủ cuộc đời của riêng mình.

Khi nghĩ về điều này, mình nhận ra rằng kỳ vọng của cha mẹ về một “tương lai tươi sáng,” chủ yếu dựa trên mong ước rằng con cái sẽ đạt được thành công nghề nghiệp. Tuy nhiên, tương lai là một điều khó đoán được trước. Liệu rằng định hướng học tập hiện tại của cha mẹ có thật sự đảm bảo được một tương lai sự nghiệp chắc chắn? Quan trọng hơn, với sự ép buộc của cha mẹ, liệu con có thể tự chủ với cuộc sống của mình trong chặng đường dài sắp tới?

Thành công trong sự nghiệp không phải là thành công của cuộc đời. Thế giới đầy rẫy các luật sư, bác sĩ, giám đốc doanh nghiệp không hạnh phúc, cũng như có nhiều người thư ký hay người lao công hạnh phúc, viên mãn và tử tế. Bạn không thể hạnh phúc, chí ít trong những quãng đời dài, nếu bạn cảm thấy đời mình không thuộc về mình.

Peter Gray

Đối với mình, không quản thúc con là điều nghe có vẻ dễ nhưng thật sự rất khó làm. Để trao cho con sự tự do trong học tập cũng như vui chơi, hay lớn hơn là cơ hội học tập về sự tự chủ, mình phải có một sự thay đổi rất lớn từ chính tư duy làm cha mẹ. Đó là sự tin tưởng vào năng lực, tin tưởng vào sự vấp ngã và vươn lên, tin tưởng rằng con đang học tập để tự lựa chọn cho con đường của chính mình.

Điều khiến trái tim mình rung động là…

Tuổi thơ của mình đã chứng kiến cha mẹ vất vả lao động, với hy vọng rằng con cái sẽ có cơ hội học tập đầy đủ để xây dựng một tương lai tươi sáng. Mình cũng đã nỗ lực không ngừng trong học tập và thi cử. Bây giờ, ở tuổi 30, mình đã có một gia đình nhỏ và vẫn luôn học tập theo một cách nào đó. Đôi khi mình tự hỏi liệu cuộc sống hiện tại có phải là “tương lai” tươi sáng mà cha mẹ mình từng hi vọng không.

Khi đọc lại những trang sách của tiến sĩ Peter Gray, mình nhận ra rằng khái niệm về tương lai chỉ là một dự đoán mơ hồ và không chắc chắn. Mình thật sự không muốn áp đặt những lo lắng của mình về một thứ mơ hồ và vô định chưa xảy ra để buộc con phải làm những điều mà con không muốn làm.

Tiến sĩ Peter Gray đã giúp mình vững một niềm tin rằng khi được tự do trong học tập, con cái sẽ khám phá ra niềm vui, sự hứng khởi và vẻ đẹp của kiến thức, cũng như sự hài lòng và sự tự chủ thực sự trong việc phát triển kỹ năng. Giáo dục tự thân là quan trọng và bền vững hơn nhiều so với việc ép buộc và cưỡng chế từ trường lớp hay bố mẹ.